In bài này

Cách chữa bệnh liệt

Việc chữa bệnh nhân bị liệt đòi hỏi phải có sự kiên nhẫn, thời gian và phải chữa hàng ngày ít nhất từ 2 hoặc 3 lần, cho nên phải CẦN ĐẾN NGƯỜI HỖ TRỢ (con cái, hoặc vợ, chồng, nếu không có thì phải thuê người đến nắn bóp ) để chữa trị.

* Thường bị liệt một bên (liệt 1/2 người, bán thân bất toại)
 Phác đồ diện chẩn chữa bệnh liệt
* liệt bên phải thường nặng hơn liệt bên trái.
* Nếu liệt bên phải thường là bị nhũn não (chân tay co quắp, đi đứng khó khăn, lưỡi rụt lại nên nói cũng khó khăn). Nếu bị nhũn não thì phải bấm các huyệt theo thứ tự 34, 290, 100, 156, 37, 41. Sau đó, làm 7 động tác dưới đây:
1- LĂN GỜ MÀY (phản chiếu tay):
a) Lăn gờ mày từ đầu mày ra cuối mày (bên nào bị lăn bên đó) lăn 30 cái 1 lần làm 3 lần, mỗi lần nghỉ 1 phút, nếu người khoẻ thì lăn 40-50 cái /1 lần.
Chú ý: Nhớ từ trong ra ngoài, nếu làm ngược lại thì sẽ bị liệt nặng hơn.
b) Xong búng (hoặc gõ)  đầu mày (H.65) và cuối mày (H.100), có thể làm 1 lần hoặc 2 lần (tùy sức chịu đựng của bệnh nhân). Mỗi lần búng (hoặc gõ) độ 15-20 cái.
2- LĂN GẦN MIỆNG (phản chiếu chân):
- Lăn từ dưới cánh mũi đến mép (30 cái/1 lần làm 3 lần).
- Lăn từ mép đến môi dưới (30 cái/1 lần làm 3 lần).
- Lăn từ môi dưới đến cằm (30 cái/1 lần làm 3 lần)
3- HƠ: Bằng nhang ngải cứu nếu có.
a) Hơ nhượng (khuỷu) tay: Từ nhượng tay lên trên khoảng 2-3cm và dưới cũng khoảng 2-3cm. Hơ đi hơ lại bằng cách hơ ½ trên, hơ ½ dưới hoặc từ trong ra ngoài (hơ tròn).
b) Hơ cùi trỏ: hơ tròn.
c) Hơ cổ tay (hay gọi là cườm tay)
d) Hơ đầu gù các đốt ngón tay.
Chú ý:
- Quan trọng ở mắt cá chân ngoài khi hơ cổ tay.
- Nếu không nói được, nói khó khăn thì hơ ngón cái tay trái (hơ từ cuối đốt thứ 2 ra đến đầu ngón cái). Xong hơ 2 bên cạnh ngón cái, nhớ hơ đi hơ lại nhiều lần. Nhờ việc hơ này mà lưỡi sẽ thon lại và dài ra, ăn nói sẽ dễ dàng.
4- LĂN TRỰC TIẾP TAY liệt:
- Lăn cánh tay trên: từ đầu vai xuống khuỷu tay (30 cái/1 lần làm 3 lần).
- Lăn cánh tay dưới: lăn từ khuỷu tay tới cổ tay (30 cái/1lần làm 3 lần).
- Lăn bàn tay: từ cổ tay ra 4 đầu ngón tay (tức mu bàn tay).
- Lăn ngón cái (ngón cái ở vị trí kẹp giữa 2 ngón cái và ngón trỏ của người chữa bệnh).
- Lăn gan bàn tay (lăn 3 lần, mỗi lần 30 cái).
- Xong day hoặc vê các đốt xương, chỗ sưng.
5- LĂN TRỰC TIẾP CHÂN liệt: (cũng như lăn tay)
- Lăn đùi: từ trong ra ngoài (30 cái/1 lần, 3 lần)
- Lăn cẳng chân: lăn xuôi từ đầu gối xuống cổ chân.
Chú ý: không lăn ở sống chân.
Lăn bàn chân: lăn mu chân trước, xong lăn 2 cạnh chân.
- Lăn gan bàn chân và day các đầu xương ngón chân.
Chú ý: tất cả các động tác lăn đều làm 3 lần mỗi lần 30 cái.
Khi lăn tay,chân: phải lăn tròn toàn bộ.
Khi tập đi phải để chân thẳng.
Cào gót và bàn chân.
6- CÀO TRÊN ĐẦU:
a- Cào từ mí tóc lên 2-3 cm xuống mí tai.
b- Công dụng: Để chữa cánh tay trên, cánh tay dưới, bàn tay (xem vị trí của đồ hình 11 phản chiếu phần ngoại vi cơ thể trên da đầu “đồ hình dương”).
c- Cào từ đỉnh đầu thẳng xuống đỉnh tai (phản chiếu đùi).
d- Cào từ đỉnh tai chếch ra sau ót (phản chiếu bắp chân).
e- Cào 2 bên sau ót (phản chiếu bàn chân).
Chú ý : tất cả đều làm 30 cái/1lần làm 3 lần. Đặc biệt chú ý: nếu bị liệt nửa người bên phải thì cào nửa đầu bên trái. Ngược lại, nếu bị bên trái thì cào đầu bên phải.
7-LĂN LƯNG:
- Lăn ngược từ xương cùng lên tới ót, lăn từng đoạn ngắn độ 15cm/1 đoạn.
- Lăn 2 bên cột sống thì lăn chéo lên.
Chú ý: khi lăn ở các đốt L3, L4, L5 phải lăn cẩn thận vì chỗ này là thận, nếu không khéo sẽ bị sa thận.
 
GS TSKH Bùi Quốc Châu
© 12/2013 - www.dienchanviet.com (Nguồn: www.dienchan.com)
In bài này

Suy Nghĩ về đặc tính dân tộc Việt Nam

  Nghiên cứu về tâm lý dân tộc là một việc làm thú vị đối với tôi, nhưng trước hết cũng xin nói rõ bài viết dưới đây không phải là một công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc về bản tính dân tộc Việt Nam, mà chỉ là một số nhận xét có tính chủ quan....

Trình bầy cũng là một dịp để học hỏi, cho nên tôi sẵn sàng đón nhận những góp ý chân thành của quý vị để cho tôi có dịp thấy những chỗ sai sót và nông cạn của mình mà kịp thời sửa chữa, bổ sung.

 

Những nét tính cách chung của người việt  

Theo tôi, tính cách của người Việt Nam nói chung có những nét như sau:

1. Tính vừa phải (chiết trung) không thái quá, không cực đoan.
2. Tính linh động, mềm dẻo ( không quá cứng nhắc)
3. Tính độc lập cao, tinh thần bất khuất.
4. Chuộng thực tế hơn viễn vông (không thích chuyện xa vời)
5. Thích sự thoải mái, tự nhiên (đặc biệt ở Nam bộ).
6. Giàu nghị lực (có sức chịu đựng)
7. Can đảm, mưu trí.
8. Hiền hòa, nhân hậu, độ lượng, dễ tha thứ, coi trọng tình nghĩa.
9. Thông minh, hiếu học.
10. Không quá khích, không hiếu thắng.
11. Tính lạc quan vui vẻ (hay cười)
12. Tính bất ổn định do thiếu nội lực
13. Tự ái cá nhân lớn hơn tự ái dân tộc. Tự ái nhiều hơn tự trọng, hay tự ái vặt.
14. Tính ăn xổi ở thì, chỉ biết cái lợi trước mắt, không nghĩ đến chuyện lâu dài.
15. Tính nghệ sĩ (hay bốc đồng)
16. Kém trí tưởng tượng và sáng tạo, ít sáng kiến, giỏi bắt chước.
17. Kém tổ chức.
18. Kém óc phân tích
19. Thiếu đoàn kết
20. Trọng hư danh. Ưa nịnh hót
21. Ít tôn trọng kỷ luật, thiếu nghiêm túc trong công việc
22. Thiếu tinh thần trách nhiệm
23. Giàu cảm tính, cảm xúc (nhạy cảm) Sống và làm việc bằng tình cảm hơn là  bằng lý trí (hay sợ mất lòng người khác)
24. Thiếu tính chân thật, ngay thẳng
25. Tư đức lớn hơn công đức, óc cá nhân lớn hơn óc xã hội.
26. Thiếu tính nhẫn nhục (Thiếu tiểu nhẫn nên thường làm hư đại sự)
27. Thiếu tự tin, nhút nhát
28. Vọng ngoại (Bụt nhà không thiêng)
29. Hay có óc cục bộ địa phương.
30. Óc chiến thuật hơn óc chiến lược
31. Tính tuỳ tiện, cẩu thả
32. Lãng phí thời gian và tiền bạc
33.Tính coi trời bằng vung (không coi việc gì là quan trọng)
34. Hay đố kỵ, nhỏ nhen, ích kỷ, hay dèm pha nói xấu kẻ khác.
35. Tính bảo thủ, hay cố chấp, thành kiến.
36. Tính thích nhàn tản, ham chơi hơn ham làm việc.
37. Tính thích danh hơn thích làm giàu (không quá coi trọng đồng tiền)
38. Tính hay bao biện, ôm đồm, không coi trọng chuyên môn.
39. Tính không rõ ràng, thích nói chung chung.
40. Tính hay tò mò, tọc mạch, ngôi lê đôi mách
41. Tính láu cá, khôn vặt, ranh ma
42. Tính hay thù vặt, hay gây gổ, dễ đánh nhau vì chuyện không đâu.
43. Thích nói (hay viết) hơn làm.
44. Thích chỉ huy ( làm đầu gà hơn làm đuôi phụng) nhưng lại kém quản lý.
45. Hay để ý đến tiểu tiết hơn là đại thể.
46. Thường  thấy gần, ít nhìn xa trông rộng.
47. Tính thích hưởng thụ ( ăn nhậu, vui chơi…)
48. Ý thức vệ sinh kém, nhất là vệ sinh công cộng.
49. Kém ý thức về trật tự công cộng. Nhà cửa thiếu ngăn nắp.
50. Không đúng giờ, không đúng hẹn. Hay thất hứa.

            Trong những điểm tâm lý nói trên, có thể có một số nét tìm thấy ở các dân tộc khác như người Hoa, người Phi, người Mã Lai… nói chung là không hẳn chỉ có ở người Việt. Nhưng điều tôi muốn nhấn mạnh ở đây là tính chất trung bình của những  đặc tính đã nêu ở dân tộc Việt. Có nghĩa là nếu người Việt có tính thiếu kỷ luật hay thiếu tinh thần trách nhiệm thì cũng chỉ ở mức trung bình chứ không quá tệ vì đặc tính nổi bật của người Việt là tính chiết trung (vừa phải). Thứ hai là những nhận xét của tôi nhằm nói đến đặc điểm của số đông, của cộng đồng chứ không nói đến những trường hợp đặc biệt của từng cá nhân mà ở dân tộc nào và lĩnh vực nào cũng có. Thật ra, những nhận xét trên đây còn có thể tìm thấy qua Âm nhạc cổ truyền dân tộc, qua nghệ thuật nấu ăn, và qua kho tàng Ca dao, tục ngữ Việt Nam vì nó phản ánh một cách khá trung thực tâm lý dân tộc qua hàng ngàn năm nay.

Sự khác biệt về thể chất, cách tư duy của người phương Đông với người phương Tây

  Đã từ lâu, tôi nhận thấy sự khác biệt về thể chất cũng như trong cách tư duy của người phương Đông với người phương Tây. Tôi đã đi đến một giả thuyết nhìn nhận rằng có một năng lực vũ trụ vô cùng lớn hình thành nên vạn vật, trong đó có các hành tinh. Cổ nhân Đông Phương gọi đó là Khí. Khí thì có Âm có Dương và luôn vận động nên nó tác động vào các hành tinh cũng dưới dạng Âm Dương. Do đó, nó chi phối trái đất theo nguyên lý sau: Nửa phần phía Tây (bên trái) địa cầu thuộc Dương, nửa phần phía Đông (bên phải) địa cầu thuộc Âm. Nửa phần phía Bắc (phần trên) địa cầu thuộc Dương, nửa phần phía Nam (phần dưới) điạ cầu thuộc Âm. Phía Tây, kể từ nước Hy Lạp qua đến nước Mỹ, còn phía Đông kể từ nước Thổ Nhĩ Kỳ và các nước vùng trung Đông đến vùng Viễn Đông như Nhật Bản, Dương quần đảo (Indonesia) Còn phía Bắc gồm các nước ở trên Dương xích đạo như Phi Châu thuộc phía Nam. Qua cách phân bổ vô hình này của vũ trụ, ta thấy các nước thuộc phía Tây và ở phương Bắc thì rất cương cường, hiếu thắng vì thuộc Dương. Còn các nước ở phía Đông và phía Nam thì hiếu hòa hơn và cũng Âm tính hơn vì thuộc Âm. Từ đó sinh ra một số tính chất rất tự nhiên về mặt tâm sinh lý của người dân sinh sống đã lâu trên các phần lãnh thổ đó.

  Điều lý thú là quy luật Âm Dương này cũng phân bổ cho từng nước tương tự thanh nam châm luôn có hai đầu khác nhau. Hễ đầu này Âm thì đầu kia Dương, nếu ta bẻ gãy thanh nam châm thì hai mảnh nam châm cũng sinh ra hai đầu khác nhau như thanh nam châm lớn. Tương tự như thế ở từng nước, phía Bắc thường có nhiều Dương Tính hơn phía Nam, do đó người phương Bắc (cư dân bản  địa) thường cương cường, hiếu thắng, thích vật chất hơn là người phương Nam. Điều này ta có thể nhận thấy ngay chính ở dân tộc Việt Nam ta với cá tính của 3 miền có rất nhiều điểm phù hợp với quy luật trên.

Ví dụ: Người miền Bắc và Bắc Trung bộ đa số đều siêng năng, năng động và cương cường, hiếu thắng (ba phần Dương, hai phần Âm) và thích hình thức, có tính phô trương hơn đa số người miền Nam và Nam Trung bộ (3 phần Âm, 2 phần Dương) .

 Chúng ta cũng có thể tìm thấy những điều tương tự như vậy ở các quốc gia và dân tộc khác như ở nước Pháp, dân bản địa Paris tức là người phía Bắc có cá tính mạnh mẽ, khéo léo và thích phô trương hơn dân ở Marseille có tính chất phác bộc trực, cởi mở như tính người miền Nam Việt Nam. Tất nhiên, việc hình thành các cá tính của từng dân tộc hay mỗi miền còn tuỳ thuộc nhiều yếu tố khác nữa như yếu tố về địa lý gồm khí hậu, thổ nhưỡng, sản vật, thức ăn, nước uống hay các yếu tố về xã hội, lịch sử và yếu tố về di truyền. Nhưng những điều vừa nêu trên chỉ là phần Hậu thiên, còn phần Tiên thiên phải nói đến sự phân bố tự nhiên của vũ trụ mà tôi vừa trình bày.

 Các điều vừa đề cập đến tạm cho là hợp lý, nhưng sẽ có người nói rằng tại sao Úc (Australia) lại thuộc về Đông Phương mà dân Úc lại không có tính cách  như các dân tộc Đông phương khác? Xin thưa, dân Úc châu ngày nay chủ yếu là dân Anh quốc di cư sang, bên cạnh đó là các dân Châu Âu khác, sau này mới thêm các dân tộc Châu Á, cho nên không phù hợp với nguyên lý trên vì họ không phải là dân bản địa thuần tuý, tức là dân đã sinh sống ở đó từ hàng nghìn năm về trước. Nhưng nếu họ ở lâu đến hàng trăm hàng nghìn năm sau thì chắc chắn cá tính sẽ thay đổi, không giống với dân chính gốc)  Tương tự dân Nam bộ tuy cũng từ miền Bắc hay miền Trung di dân vào, nhưng sau vài trăm năm ai cũng thấy cá tính người Miền Nam có rất nhiều điểm khác biệt ở người Bắc hay người Trung.

 Nói chung, các nước ở vùng nhiệt đới (xứ nóng) ở gần Xích đạo thì kém Dương khí, có thể nói là Âm hơn các nước ở ôn đới (xứ lạnh) luôn có nhiều Dương khí hơn. Nước Việt Nam ở gần Xích đạo nên so với Trung Quốc, Hàn Quốc hay Nhật Bản thì kém Dương hơn, do đó vóc người và xương cốt nhỏ nhắn hơn, cá tính cũng ôn hòa hơn, không quá khích như các dân tộc trên. Tuy nhiên, nếu căn cứ vào sự phân bố vào sự phân bổ của đồ hình Thái Cực trên. Việt Nam thuộc dạng không quá Âm hay quá Dương mà ở mức trung bình. Do đó tính khí người Việt tương đối quân bình, từ đó suy ra các đức tính khác của dân tộc ta.

Các yếu tố Âm Dương 

Để hiểu rõ hơn tính cách của các dân tộc xét theo quan điểm Âm Dương, tôi xin liệt kê các yếu tố Âm Dương sau đây:

Âm: yếu đuối, hiền hòa, chất phác, thụ động, thiên về tư tưởng, những gì thuộc vô hình hơn là hữu hình, nên chuộng khoa học tâm linh, chuộng triết học hơn là khoa học kỹ thuật, cơ khí.

Dương: mạnh mẽ, dữ tợn, năng động, thiên về vật chất, những gì hữu hình hơn là vô hình. Cho nên chuộng khoa học kỹ thuật, cơ khí hơn là khoa học tâm linh.

 Tuy nhiên, thế giới ngày nay đang nối kết làm một. Hai khối Đông – Tây đều ảnh hưởng lẫn nhau cho nên không còn bản chất nguyên thuỷ như vừa trình bầy. Phương Đông cũng dần dần chuộng và áp dụng khoa học kỹ thuật của phương Tây mà trước đó mình chưa có, chưa biết và phương Tây cũng đã học hỏi tinh thần triết học phương Đông như Phật giáo, Thiền (Zen) khổng giáo, Lão giáo… mà trước đó họ không có.

 Khi đã nắm vững và thống nhất các điều cơ bản về Âm Dương nói trên, chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra dân tộc ta thiên về Âm tính  nhiều hơn là Dương tính. Đó là nguyên lý căn bản trong Đông y mà nhiều người đã biết. Ngoài ra cũng cần nên biết, trong Âm bao giờ cũng có Dương và trong Dương bao giờ cũng có Âm. Do đó nếu nói dân tộc ta thuộc Âm, điều đó cũng có nghĩa là dân tộc ta có phần Thiếu Dương ở bên trong (vì trong Thái Âm luôn có Thiếu Dương tiềm ẩn) tức là bên ngoài thì mềm (Âm) mà bên trong thì cứng ( Dương).

 Cho nên khi dân tộc ta có tính Âm nhiều hơn Dương, điều đó cũng có nghĩa là Dương hướng chúng ta trong tương lai sẽ phải tăng cường phần Dương lên để quân bình Âm – Dương thì sẽ trở nên vững mạnh và mới phát triển tốt được.

Âm hay Dương đều có mặt tích cực và tiêu cực

Cần lưu ý là Âm hay Dương đều có mặt tích cực và tiêu cực của nó. Cho nên trước hết, tôi nói về mặt tiêu cực của dân tộc ta, sau đó tôi sẽ nói về mặt tích cực trên cơ sở giả định là dân tộc ViệtNam thuộc Âm (nói cách khác là mang nhiều tính Âm)

Ở Việt Nam, đàn ông hầu hết đều đi xe máy của nữ. Chúng ta sử dụng nó một cách tự nhiên vì nó hạp với bản tính của chúng ta. Điều này ở các nước Tây phương (nhiều Dương hơn) ít thấy. Vì đàn ông của họ thường đi xe phân khối lớn dành cho nam giới, họ không sử dụng xe honda hay xe tay ga mà họ cho là của phụ nữ.

Dân mình hay ăn uống, đó cũng là tính cách của đàn bà, quá nhiều quán xá, nhà hàng từ nhỏ đến lớn kể cả các quán cóc vỉa hè và lúc nào cũng có người ăn uống. Ai cũng biết, đàn bà hay ăn vặt hơn đàn ông, cho nên đây cũng là biểu tính của phụ nữ.

Dân mình làm gì cũng bé tí, ít thích những gì khổng lồ, to đùng khác với dân Mỹ, vì tính rất Dương nên thường thích những cái to đùng, vĩ đại. Từ đó, người Việt thường thích buôn bán nhỏ, suy nghĩ nhỏ, ước muốn, cất nhà, làm tượng đài, kế hoạch đều nho nhỏ.

Dân mình hay để ý và câu nệ, chấp nhất những cái vụn vặt, tủn mủn…cho nên nhiều khi quên cái lớn (Tiểu tiết làm hỏng đại sự) Cho nên thường thì chuyện lớn dễ bỏ qua nhưng chuyện nhỏ lại quyết không tha. Đây cũng là thuộc tính của nữ, vốn dĩ rất vị tha nhưng cũng dễ sa vào tiểu tiết  để trở nên khó chịu, nhỏ mọn, chấp nhất.

Dân mình hay đố kỵ, xuất phát từ lòng ganh tỵ do đó hay móc chuyện thiên hạ …hay dèm pha, nói xấu kẻ khác. Đây cũng là thuộc tính của phụ nữ hay ngồi lê đôi mách hơn đàn ông.

Dân mình ít nghĩ xa, tầm chiến lược thường ngắn hạn, không thích bàn chuyện viễn vông, xa vời mà thích thực tế ngay trước mắt. Đây cũng là tính cách của nữ. Có thể ví von: Đàn ông là đèn pha, đàn bà là đèn code, nhìn gần thì rõ, nhìn xa thì mờ. Do không thích những kế hoạch dài hạn nên đưa đến tính ăn xổi, ở thì.

Dân tộc ta có tính hay thay đổi, trên báo chí thỉnh thoảng vẫn đăng tải ý kiến của các doanh nhân nước ngoài là kế hoạch làm ăn của ta thường thay đổi xoành xoạch khiến họ không biết Dương đâu mà lần. Đây cũng là thuộc tính của nữ, vì nữ bản tính mềm yếu, hay thay đổi, dễ nghe lời người khác nên có câu: “cưới vợ thì cưới liền tay, chớ để lâu ngày lắm kẻ dèm pha”

Dân Việt thường ít có thái độ rõ ràng, dứt khoát, cụ thể (hay nói nước đôi). Trong làm ăn cũng như trong xử thế, thường như vậy khiến các đối tác rất khó làm việc. Đây cũng là một đặc tính của nữ, thường ít khi trả lời rõ ràng về một vấn đề (muốn hiểu sao cũng được) nhất là trong lĩnh vực tình cảm.
Ít tự tin, kém sáng tạo mà lại ha vong ngoại, giỏi bắt chước hơn sáng chế. Điển hình là gần đây, thanh niên nam nữ đua nhau bắt chước cách ăn mặc và sinh hoạt kiểu Hàn Quốc. Cho nên HSSV Việt Nam thường học giỏi nhưng lại ít có phát minh.

Đa số dân mình hay suy nghĩ và làm việc theo cảm tính, ít theo lý trí. Đây cũng là một đặc điểm của nữ giới.

 Trên đây là xét về mặt tiêu cực của tính Âm, còn về mặt tích cực thì dân ta cũng lắm điều hay như:

-       Tính nhẫn nại, chịu đựng cao, cũng là thuộc tính của nữ giới.

-       Tính bao dung, hay tha thứ

-       Tính khéo léo, linh động trong giao tiếp, ứng xử.

 Ta co thể nêu ra thêm một số mặt tích cực nữa của tính Âm, nhưng thiết tưởng bây nhiêu đó cũng đã cho ta thấy rõ dân Việt bản chất thiên về Âm nhiều hơn là Dương (chứ không phải là không có Dương tính vì trong Âm bao giờ cũng có Dương: Âm trung hữu Dương căn)

 Những luận cứ  và nhận định trên đây của tôi nhằm giúp cho chúng ta hiểu rõ mình là ai, như thế nào để dễ dàng phát huy những ưu điểm, khắc phục hay hạh chế khuyết điểm. Như thế không có gì đáng ngại mà trái lại còn giúp cho dân tộc ta phát triển mạnh hơn.  Vì ta sẽ phát triển trên cơ sở chọn lọc những gì hợp với bản chất, cơ địa của mình. Như trong việc đào tạo các võ sinh của các vị thầy hồi xưa là căn cứ vào thể hình và tính khí của môn sinh mà dạy cho họ môn võ phù hợp.

Vídụ: Đối với người nhỏ con mà lanh lẹ thì dạy Hầu quyền, đối với người cao gầy thì dạy hạc quyền, với người mạnh mẽ, vạm vỡ thì dạy Hổ quyền, Hồng Gia quyền…Hoặc người nhỏ con, yếu sức thì học Aikido hay Judo tốt hơn là học Karaté hay Taekwando.
 

Đinh hướng phát triển đất nước theo quy luật âm dương
 Cho nên, sau khi đã xác định bản tính hay khuynh hướng của dân tộc ta là Âm tính, thì ta sẽ có các chương trình, kế hoạch xây dựng, phát triển đất nước theo hướng phù hợp với bản tính và địa hình của đất nước ta. Vì sẽ rất sai lầm và đi vào chỗ bất thuận lợi khi ta định hướng phát triển như các nước khác vốn có tính Dương nhiều hơn ta, và địa hình của quốc gia họ cũng khác ta. Cụ thể hơn, ta có thể định hướng học tập, nghiên cứu xây dựng phát triển về ngành y học (Y học dân tộc và y học hiện đại) nhất là về ngành vi phẫu thuật, tai mũi họng, tim …hay giải phẫu thẩm mỹ, cũng như các lĩnh vực Dương sinh, công nghệ thông tin (IT) du lịch, dịch vụ, văn chương, nghệ thuật… các hoạt động về tiểu thủ công nghiệp như gốm sứ, thêu thùa, may mặc thay vì đầu tư vào các ngành công nghệ nặng, về cơ khí … Chúng ta cũng nên tập trung vào các loại hình thể thao nhẹ như cầu lông, bóng bàn, cơ vua thay vì tập trung cho bóng đá, quần vợt … vì những loại hình này thuộc Dương, đòi hỏi nhiều thể lực thích hợp với các dân tộc Dương tạng như Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản hay các dân tộc Âu Mỹ hơn là dân tộc ta.


 Có lẽ chúng ta không nên buồn vì biết dân tộc ta thuộc Âm, nếu các bạn đồng ý với quan điểm của tôi vì Âm không phải là xấu mà Dương cũng không phải là hay, nếu xét về phạm trù Âm – Dương thì cả hai đều có giá trị ngang nhau, và đều có mặt mạnh lẫn mặt yếu. Vần đề ở đây là cần nhận biết rõ, ta là ai ? ta như thế nào ? Để xây dựng đất nước cho tốt đẹp và phát triển nhanh chóng hơn nếu chúng ta không có những nhận định sai lệch về mình. Cho nên khi nắm rõ điều này , ta sẽ định hướng đúng trong việc xây dựng đất nước, như thế sẽ làm cho đất nước ta tiến bộ rất nhanh. Vì ai cũng biết, cái gì hợp thì sẽ mau có kết quả lâu bền và trái lại.

Trong việc làm ăn buôn bán, chữa bệnh, ăn uống cũng nhu quan hệ vợ chồng, ai cũng thấy rõ điều này.

Tác giả: GS TSKH Bùi Quốc Châu
© 12/2013 - www.dienchanviet.com   
In bài này

Sáng xoa mặt, tối xoa chân

 Tác giả: Bùi Quốc Châu

huyet_tren_mat

Người thầy thuốc tốt nhất chính là bản thân chúng ta. Hãy biết tự bảo vệ sức khỏe và nâng cao thể trạng cơ thể bằng những biện pháp đơn giản mà hiệu quả như sau:

Bảo vệ sức khỏe bằng khăn nóng

Các bạn hãy tận dụng chút thời gian ngắn ngủi rửa mặt mỗi buổi sáng để chà xát kỹ khuôn mặt của mình bằng nước ấm. Làm được như vậy thường xuyên, bạn sẽ có một cơ thể thực sự dẻo dai và bền bỉ.

Tuy nhiên người nóng nhiệt không nên chà nhiều, hoặc đã xoa mặt bằng tay thì thôi không chà mặt bằng khăn nóng nữa vì sẽ làm cơ thể nóng quá không tốt. Cách này hợp với người có cơ thể lạnh. Những kết quả thu được có thể là:
- Làm khỏe tim: Đi lên xuống cầu thang không bị mệt, hết bị mệt tim, hồi hộp, giật mình khi nghe tiếng động mạnh.
- Làm ấm các khớp chân tay, tan vôi chống thoái hóa khớp, hỗ trợ việc trị viêm chu vai (tay đau không thể giơ cao khỏi đầu).
- Làm mạnh sinh lý, giúp quý ông cường dương, chống xuất tinh sớm.
- Làm ăn ngon, ngủ tốt (nếu người nóng, có thể tạng dương nếu chà mặt buổi tối sẽ bị mất ngủ).
- Phòng và trị tình trạng liệt dây thần kinh số 5 và số 7.
- Phòng và trị tình trạng Cholesterol trong máu cao.
- Phòng và trị bệnh gan nhiễm mỡ.
- Phòng và trị bệnh đau dạ dày, lá lách.
- Phòng và trị táo bón, các bệnh đường ruột.
- Làm mạnh gân, xương.
- Làm da mặt hồng hào, mịn màng, trẻ hóa cơ thể.
- Làm săn chắc da thịt toàn thân.

12 động tác xoa mặt

Nếu chịu khó, chúng ta có thể tập 12 động tác xoa mặt vào buổi sáng ngay sau khi thức dậy, cụ thể như sau:

1. Xoa bàn tay cho nóng áp vào mắt (xoa tay áp mắt) 3-5 lần.
Tác dụng: Làm mắt sáng, tỉnh ngủ.

2. Xoa vòng quanh mí mắt từ đầu mày ra phía đuôi mày bằng đầu ngón tay giữa, sau đó dùng đầu ngón tay giữa gõ huyệt trước khoé mắt và sau đuôi mắt rồi gõ huyệt giữa chân mày và giữa xương hốc mắt (ngay dưới con ngươi) mỗi nơi 10 lần.
Tác dụng: Quanh mắt có nhiều huyệt điều tiết con mắt, làm mắt tinh sáng, giảm cận thị, viễn thị, khai thông bộ phận sinh dục nam, khai thông được tinh hoàn. Nữ khai thông buồng trứng, trị đau mỏi cánh tay, bả vai.

xoamat1-6

3. Để hai bàn tay xoa khắp 2 bên mặt, chừa mũi ra. Xoa khắp mặt làm da mặt nóng ấm, da mặt dãn ra, xoa nhiều quanh má.
Tác dụng: Làm da mặt mịn màng, láng bóng, làm thức tỉnh các sinh huyệt, điều hoà lưu thông khí huyết toàn thân.

4. Chà bờ môi trên và cằm. Dùng bàn tay chà qua chà lại, bờ môi trên, bờ môi dưới và ụ cằm, sao cho vùng môi cằm nóng ấm thì dừng (chà nhiều nóng).
Tác dụng: Làm hệ thống tiêu hoá được tốt hơn, giúp hệ bàng quang điều tiết bình thường.

5. Chà dọc mũi (lên xuống). Chập 3 ngón tay trỏ, giữa, áp út vào nhau (ngón giữa để trên sống mũi). Miết từ đầu mũi lên chân tóc, trán, miết lên xuống nhiều lần cho nóng ấm thì dừng.
Tác dụng: Điều hoà nhịp tim, chữa đau cột sống, chữa các bệnh về mũi, làm hạ huyết áp, chữa đau tức ngực, chữa đau cuống họng, làm khoẻ chân, chữa đau mông, háng, chữa đau khớp gối.

6. Khum bàn tay lại úp vào trán, xoa toàn bộ trán, (xoa ngang trán) cho nóng ấm thì dừng.
Tác dụng: Làm cho lục phủ ngũ tạng phản chiếu trên trán được lưu thông. Làm trán không nếp nhăn, tăng cường trí nhớ, tỉnh táo, sáng suốt.

7. Để ngón tay trỏ và giữa vào trước và sau mang tai hình chữ V, chà xát lên xuống cho ấm (chà nhiều nóng gây phỏng da).
Tác dụng: Làm tai thính, trị bệnh tim, bệnh thận, bệnh về cột sống lưng, đau mắt. Chống cảm, mỏi lưng, chống viêm họng, sổ mũi, điều hoà huyết áp, làm nóng ấm người rất nhanh, đặc biệt nhất là vùng trước tai.

xoamat7-12

8. Vuốt cổ (ngửa cổ lên, mở rộng bàn tay) Dùng hai bàn tay đặt từ xương hàm vuốt xuôi xuống cổ (vùng huyệt Thiên đột) chỉ vuốt xuôi không vuốt ngược cho nóng ấm thì dừng.
Tác dụng: làm thông vùng khí quản, chống ho, viêm họng, làm ấm vùng hầu họng, không vướng đờm.

9. Chà gáy: lấy bàn tay chà xát gáy mỗi bên 10 lần, hoặc cho đến khi thấy ấm nóng.
Tác dụng: Tăng cường sức lực cho toàn bộ cơ thể, đưa khí huyết tưới cho toàn bộ vùng não bộ dễ dàng.

10. Cào đầu (dùng 10 đầu ngón tay cào từ mí tóc trán ngược ra sau gáy 50 cái). Dùng 10 đầu ngón tay, cào từ chân tóc lên đỉnh đầu. Cào từ đỉnh đầu dồn về sau ót và hai đầu tai nhiều lần, khi cào phát hiện chỗ nào đau thì cào nhiều lần vào chổ ấy cho tới khi giảm đau.
Tác dụng: Làm máu lưu thông trong não, chữa đau mỏi toàn thân, giúp hệ thần kinh não bộ lập lại sự cân bằng, giải toả những bế tắc, đặc biệt chữa người bị liệt rất tốt.

11. Xoa nóng 2 vành tai. Vuốt tai xuống, cho nóng ấm chừng 30 lần. Hai bàn tay úp vào tai xoa tròn quanh tai cho nóng ấm thì dừng. Dùng hai bàn tay áp vào hai tai các ngón tay đặt ra sau gáy, rồi ép lòng bàn tay vào tai đồng thời dùng 10 đầu ngón tay gõ chẩm.
Tác dụng: Làm khí huyết đưa lên não được lưu thông dễ dàng (làm ấm tai, ấm thận, ấm bao tử). Làm tai tiếp nhận âm thanh tốt, nghe rõ.

12. Gõ răng 10 lần (hai hàm răng dập nhẹ vào nhau). Đảo lưỡi (dùng lưỡi đảo khắp miệng cho đến khi ra nhiều nước miếng, khi đảo lưỡi đưa sát chân răng và lợi nhiều lần), rồi nuốt nước miếng, làm 3 lần cả thảy (để làm mát cơ thể, bổ chân âm).
Tác dụng: Làm chặt lợi, lưu thông khí huyết vùng lợi để nuôi dưỡng răng. Nước miếng mang tính âm, làm mát dạ dày, làm mát cơ thể, bổ chân âm, chống thấp khớp, viêm khớp, khô khớp, làm người trẻ lâu, sát trùng bào tử, chống viêm họng, nhất là nước miếng buổi sáng.

Tóm lại: Xoa mặt buổi sáng có 4 công dụng chính. Khí huyết lưu thông toàn cơ thể. Da dẻ mịn màng, nước da đẹp đẽ. Tiêu hết nám, mụn trên mặt. Mắt tinh, tai thính.

6 động tác xoa chân

Ngược lại với xoa mặt, các bạn nên xoa chân vào buổi tối trước khi đi ngủ. Thực hiện 6 động tác sau đây:

1. Ngồi trên sàn, bàn chân trái đặt lên đầu gối chân phải. Bàn tay trái để lên mu bàn chân, bàn tay phải đặt dưới lòng bàn chân. Sau đó vuốt nhẹ bàn chân. Đổi chân và lặp lại động tác này.

2. Đặt cổ chân trái lên đầu gối phải. Dùng ngón tay cái (bàn tay phải) ấn nhẹ và xoa đều lên phần mặt trong của gót chân.

3. Ngón tay cái (bàn tay phải) đặt phía dưới lòng bàn chân, sau đó ấn và vuốt nhẹ theo đường rãnh giữa những ngón chân.

ban_chan

4. Dùng ngón cái của bàn tay trái ấn và miết nhẹ theo đến ngón cái của bàn chân.

5. Đặt bàn chân trái lên đầu gối và kéo mũi chân hơi chúi xuống đất. Dùng ngón tay cái (bàn tay phải) xoa lòng bàn chân thành hình những vòng tròn.

6. Nắm lấy những ngón chân, bóp và vuốt nhẹ.

Sau đó có thể lập lại các động tác trên thêm một lần nữa. Trong suốt thời gian thực hiện các động tác đừng quên thoa một ít dầu massage.

Nếu cảm thấy bị đau, thốn, nhức, khi đang làm các động tác trên, hãy cố gắng tìm những chỗ đau thốn, khó chịu nhất trên mặt, chân và day ấn chỗ đó nhiều hơn (trừ trường hợp là mụn bọc hay sưng tấy). Day từ nhẹ tới mạnh đến khi nào hết đau mới thôi (nếu cần có thể làm mỗi ngày vài lần). Đây là những bí quyết rất đơn giản nhưng hữu hiệu vì các điểm đau thốn trên da là những sinh huyệt báo hiệu bệnh sắp hay đang xảy ra.

Day ấn các điểm trên sẽ giúp cơ thể tự điều chỉnh làm lành bệnh một cách tự nhiên.

Cuối cùng, để có giấc ngủ ngon, thần kinh ổn định và huyết áp điều hoà, ta có thể làm 3 động tác sau:

1. Xoa chân cho ấm (bằng 2 lòng bàn chân xoa với nhau).

2. Cào đầu bằng cây cào hoặc bằng các đầu ngón tay từ mí tóc trán ra sau gáy 50 lần.

3. Xoa nóng hai bàn tay, lấy đầu cao (không dùng dầu nước) xoa lên hai gan bàn chân, rồi lấy tay xoa giữa lòng bàn chân, xong xoa toàn bộ lòng bàn chân (gồm cả ngón chân, mu bàn chân, cổ chân, kẽ các ngón chân) cho thật kỹ. Xoa bóp cho tới khi nào bàn chân mềm và ấm áp mới thôi.

Chú ý: Xoa mạnh để làm cho nóng ấm bàn chân.

(Nguồn: dienchan.com)

In bài này

Đường lối diện chẩn

Tg: GS TSKH Bùi Quốc Châu

 Tại sao tôi viết bài này? Vì Diện Chẩn hiện nay đã và đang có hàng triệu người áp dụng ở hàng trăm quốc gia trên thế giới (chỉ tính đến sáng ngày 8/7/2011, số lượt người truy cập*, xem http://www.dienchan.com đã hơn 1.400.000, thuộc 105 quốc gia/lãnh thổ) sau 31 năm kể từ khi tôi tìm ra phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc mà ngày nay được gọi với tên ngắn gọn là DIỆN CHẨN, thay vì gọi đầy đủ như trước đây là “Diện chẩn – Điều khiển liệu pháp”.
Tác giả Diện Chẩn - Bùi Quốc Châu 
Người tìm ra chỉ có một, lý thuyết cũng chỉ có một người viết ra – đó là tác giả Bùi Quốc Châu nhưng người làm tức thực hành, áp dụng thì có hàng triệu. Đó là nói hiện nay chứ đến vài chục hay 100 năm sau thì người áp dụng  Diện Chẩn sẽ có đến hàng tỉ. Cho nên nếu không nói rõ đường lối, phương hướng chữa bệnh thì sẽ xảy ra tình trạng bát nháo, mỗi người một cách, không đúng với TINH THẦN CỦA DIỆN CHẨN mà người sáng lập ra đã đề ra.
Để hiểu đúng tinh thần Diện Chẩn là gì thì ta phải trở lại từ đầu, xem nền tảng của phương pháp Diện Chẩn là gì và mục đích của người sáng lập là dùng Diện Chẩn để làm gì.
Nền tảng của Diện Chẩn
Trước hết xin nói về NỀN TẢNG CỦA DIỆN CHẨN. Như trong các bài viết trong sách Diện Chẩn và giáo trình, tôi luôn nói là Diện Chẩn được xây dựng trên nền tảng Đạo học Đông phương (gồm Tam Giáo: Phật, Khổng, Lão-Trang và Kinh Dịch), Văn hóa Việt cùng 3 nền y học  là y học hiện đại, y học cổ truyền và y học dân gian (Xem bài Vài nét về lịch sử môn Diện Chẩn-Điều Khiển Liệu Pháp  trong sách Bài giảng Diện Chẩn Điều Khiển Liệu Pháp, trang 5 – 14 )mà người học Diện Chẩn phải học hoặc ít nhất phải biết những điều tôi đề cập ở trên là gì. Như thế, Diện Chẩn  là phương pháp mang tính TỔNG HỢP rất cao. Nhất là việc hiểu và vận dụng Đạo học Đông phương vào Diện Chẩn là phần cực kỳ quan trọng, có thể nói là cốt lõi của phương pháp Diện Chẩn, mới có chữ Tâm và chữ Tùy trong Diện Chẩn. Từ y học cổ truyền mới có việc vận dụng hệ Kinh lạc, Tứ chẩn, Bát Cương, Âm dương Ngũ hành.Vận dụng y học hiện đại vào Diện Chẩn mới có 6 vùng phản chiếu hệ bạch huyết, hệ thần kinh thực vật, hệ nội tiết, hệ thần kinh -  12 đôi dây TK sọ não, hệ da, hệ cơ… Vận dụng y học dân gian và văn hóa Việt vào Diện Chẩn mới có cách chữa theo Đồng ứng, Đồng hình, Đồng tự, Đồng âm (tương tự cách chữa mẹo trong dân gian), cách chữa theo Thập nhị huyền công tương tự cách chữa bằng bùa chú trong dân gian (nhưng không phải là bùa chú)…
Mục đích của Diện Chẩn
Kế đến xin nói về MỤC ĐÍCH CỦA DIỆN CHẨN. Diện Chẩn dùng để làm gì? Người sáng lập là tôi chỉ có mỗi ước muốn duy nhất là mong dùng phương pháp  mình đã khổ công tìm ra để đem lại sức khỏe, sự bình an, trí tuệ, hạnh phúc, tính độc lập và tự do cho tất cả những người Đau và Khổ trên cõi đời này, trong đó dân tộc Việt Nam ta là ưu tiên. Với phương pháp của mình, mong muốn thiết tha của tôi là sao cho tất cả mọi người trên trái đất này, gồm hết nam, phụ, lão, ấu và gồm cả cây cỏ, hoa lá, thú vật, chim muông (kể cả đồ vật) đều được hưởng sự mầu nhiệm của Diện Chẩn nên bắt buộc tôi phải tìm tòi, suy nghĩ ra những cách vô cùng đơn giản nhưng lại rất hiệu quả để cho mọi người đều có thể học và làm được trong thời gian ngắn. Cho nên từ giai đọan mở đầu phương pháp Diện Chẩn, tôi đã dùng kim nhỏ và ngắn châm trên MẶT người bệnh, sau đó do nghĩ rằng nếu dùng kinh châm thì không thể đại chúng hóa nhanh được nên tôi đã bỏ cách dùng kim, thay vào đó là những dụng cụ làm bằng sừng trâu, kim loại và nhựa cao cấp, cũng như đã mở rộng phạm vi nghiên cứu và điều trị không chỉ ở vùng MẶT mà ra khắp toàn thân. Về điều trị, từ những phác đồ gồm nhiều dãy số đã có thêm những phác đồ ngắn gọn và sau này, nhiều khi khộng cần dùng đến huyệt đạo cũng giúp cho người bệnh hết bệnh hoặc thuyên giảm.
Cho đến những năm gần đây, người bệnh chỉ cần đọc số huyệt (Niệm công), tác động lên hình ảnh (Ảnh công) hay nghĩ về bộ phận đang đau (Ý công), viết chữ trên giấy (Từ công), viết bằng ngón tay lên bộ phận đang đau (Khoán công) hay uống nước (Thủy công)…đều có thể giảm hay hết bệnh. Những cách này không cần phải vận dụng lý thuyết Tây hay Đông y nhưng vẫn đem lại hiệu quả đáng ngạc nhiên cho những ai đã được chữa hay tự chữa.
Như tôi thường nói “có nhiều con đường để đi đến một nơi”, Diện Chẩn cũng thế. Có nhiều cách để chữa một bệnh, cách nào chữa NHANH, GỌN, ÍT ĐAU ĐỚN, ÍT TỐN KÉM NHẤT LÀ CÁCH HAY NHẤT, chứ không phải là dùng cách chữa chính thống mới được. Vì quan niệm rộng rãi, cởi mở của tác giả là không bắt buộc phải biết các lý luận y học Tây hay Đông y mà người bệnh – trước mắt là môn sinh của tác giả  – mới được hưởng những kết quả kỳ diệu như các bạn đã từng biết.
Cho nên nếu bạn nào nói rằng học Diện Chẩn là phải biết lý luận y học hiện đại hay cổ truyền rồi mới nên chữa bệnh cho mình và cho người khác là không đúng, đó là bị chấp. Vì như trong dân gian, từ lâu đã có những cách chữa bệnh không căn cứ vào lý luận y học nào cả mà kết quả vẫn vượt xa sự mong muốn và tin tưởng của mọi người.
Tất nhiên, nếu chúng ta nói không cần kiến thức về y học hiện đại và cổ truyền là không đúng. Nhưng nếu nói phải có kiến thức về Đông hay Tây y mới được hoặc mới nên chữa bệnh bằng Diện Chẩn là sai vì điều trước hết chúng ta cần phải nhớ là “Diện Chẩn không phải là Đông hay Tây y và đối với người bệnh, điều quan trọng nhất là chữa hết bệnh cho họ, chứ không phải biết rõ  bệnh của họ nhưng lại không chữa được cho họ lành bệnh”.Cho nên nếu bạn có học qua Đông hay Tây y thì càng tốt nhưng nếu không có cũng không sao ( như với cách chữa mẹo hay Thập nhị huyền công, có người không biết gì về Đông y hay Tây y vẫn chữa được những bệnh mà Đông, Tây y nhiều khi không thể chữa dứt hẳn hay bó tay luôn, là như: viêm xoang, viêm chu vai, viêm mũi dị ứng, viêm mủ lỗ tai, bệnh trĩ, nhức đầu kinh niên, mất ngủ kinh niên.v.v…). Từ những ca bệnh điển hình này, các bạn hãy để ý đến và nhớ lại những TÂM NGÔN DIỆN CHẨN mà tôi thường nói trong lúc giảng dạy, cũng như những câu nói của cổ nhân, của bà con quần chúng trong dân gian cũng như kinh nghiệm bản thân. Hãy dùng những hiểu biết này của mình trong lúc chữa trị bệnh cho mình và cho người khác.
Nói tóm lại, vì nền tảng của Diện Chẩn là Tam Giáo, là văn hóa Việt, là kinh Dịch và 3 nền y học cùng nhiều kiến thức khác, nên không thể nói “học Diện Chẩn là bắt buộc phải biết Đông và Tây y” mà nên nói rằng “nếu muốn trở thành môn sinh Diện Chẩn giỏi thì nên học thêm Đông và Tây y, và nếu có điều kiện, phải đọc thêm sách viết về Đạo học Đông phương như Phật, Khổng, Lão-Trang, kinh Dịch, văn hóa Việt nữa chứ không chỉ có sách y học là đủ”.  Có nhiều người do trình độ học vấn có hạn, nghe nói học Diện Chẩn  bắt buộc phải học Đông và Tây y thì họ rất ngại, do ai cũng biết việc học Đông, Tây y không phải là dễ và cũng không phải trong thời gian ngắn là thấu hiểu, nắm bắt được dù cho chỉ là các phần căn bản. Vã lại, chúng ta càng ngày càng có nhiều cách chữa bệnh không cần đến huyệt, cũng không cần biết đến lý luận Đông, Tây y mà vẫn chữa hết bệnh, như: Ý công, Từ công, Khoán công.v.v… Thực tế này càng chứng tỏ Diện Chẩn là một phương pháp chữa bệnh độc đáo, kỳ lạ, dành cho tất cả mọi người, kể cả người bình dân ít học, trẻ em, người lớn tuổi, người khuyết tật nhẹ… đều có thể học được và làm tốt. Sở dĩ Diện Chẩn đạt được điều này mà từ trước đến nay ít có phương pháp nào có thể làm được như vậy là vì tác giả đã DÀNH NHIỀU THỜI GIAN NGHĨ ĐẾN VIỆC TÌM RA CÁCH CHỮA ĐƠN GIẢN, DỄ HỌC, DỄ LÀM ĐỂ MỌI NGƯỜI TRÊN HÀNH TINH NÀY CÓ THỂ TỰ CỨU MÌNH MÀ KHÔNG LỆ THUỘC NHIỀU VÀO THUỐC MEN NHƯ TRƯƠC ĐÂY, THẦY THUỐC HAY NGƯỜI KHÁC.
Cho nên đối với những kiến thức cao, khó hiểu, khó nhớ như Đông, Tây y thì tác giả không đề cao hay yêu cầu học viên Diện Chẩn bắt buộc phải học ngay từ đầu – như vậy là tạo sự khó khăn cho họ ngay từ lúc mới vào học. Tác giả nghĩ rằng những kiến thức về Đông, Tây y ở mức cao nên dành cho những người đã có học vấn cao, trình độ vững vàng về Diện Chẩn rồi mới nên học. Trái lại, nếu chú ng ta đặt ra yêu cầu đó cho những người ít học,mới bước chân vào Diện Chẩn thì không nên vì sẽ tạo sự khó khăn khiến họ sẽ nãn chí và bỏ cuộc vì cho rằng “Diện Chẩn khó quá!”.
Trên đây là những điều mà tôi đã quan sát, chiêm nghiệm và lắng nghe từ quần chúng học viên sau gần 30 năm dạy Diện Chẩn. Do đó tôi mong các môn sinh Diện Chẩn trong và ngoài nước hãy đọc kỹ bài này để nắm vững đường lối phổ biến Diện Chẩn hiện nay và trong tương lai.
  
GS TSKH Bùi Quốc Châu
(Nguồn dienchan.com)